.jpg)
Đầu năm 1960, Căn cứ Nước Là đã cơ bản xây dựng xong. Lúc bấy giờ cơ quan Khu ủy ở ngoài Bắc chuyển hết vào mật khu Đỗ Xá, hình thành 7 phòng ban giúp việc cho Khu ủy chỉ đạo các mặt công tác. Đó là Văn phòng Khu ủy, Ban Quân sự, Ban Kinh tế, Ban Tuyên huấn, Ban Binh vận, Ban Giao vận và bộ phận An ninh - xây dựng căn cứ. Văn phòng Khu ủy và cơ quan Thường vụ Khu ủy đóng ở gần sông Tranh, đối diện với làng Tu Du ở xã Trà Cang. Các ban phòng còn lại đóng rải rác ven suối Nước Là.

Từ khi được thành lập đến Đại thắng mùa xuân 1975, ngoài 3 năm di chuyển đi nơi khác, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 5 chọn Trà My đặt bản doanh để lãnh đạo phong trào cách mạng ở miền Trung-Tây Nguyên. Và những cánh rừng đại ngàn dưới chân núi Ngọc Linh được mệnh danh là “thủ đô kháng chiến” Khu 5 trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, đầy hy sinh gian khổ. Nhân kỷ niệm 35 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn “thủ đô kháng chiến” Khu 5 để hiểu thêm về những năm tháng hào hùng...

Năm 1959, chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng lên ở miền Nam nước Việt vừa hô hào “Bắc tiến”, vừa thi hành “Luật 10/59” lê máy chém khắp các hang cùng ngõ hẻm để “đào tận gốc, trốc tận rễ” cộng sản nằm vùng. Trước tình hình đó, Khu ủy Khu 5 gấp rút triển khai thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, nhằm đưa phong trào cách mạng miền Nam chuyển sang giai đoạn mới. Tháng 10-1959, sau khi các đồng chí Bùi Sang - Thường vụ Khu ủy, Trương Chí Cương - Phó Bí thư Khu ủy, đi khảo sát tình hình thực tế tại vùng rừng núi Trà My, Ban Thường vụ Khu ủy Khu 5 họp bàn và quyết định di chuyển cơ quan Khu ủy từ huyện Hiên (nay là Đông Giang và Tây Giang) sang khu vực Nước Là để xây dựng căn cứ địa dưới chân núi Ngọc Linh để chuẩn bị đối đầu lâu dài với quân xâm lược Mỹ. Đó là mật khu Đỗ Xá.
Căn cứ Nước Là ở huyện Nam Trà My, bao gồm cả một khu vực rộng lớn thuộc các xã Trà Vân, Trà Mai, Trà Don... Núi non nơi đây không cao lắm, rừng đại ngàn mênh mang với độ che phủ lớn, sông suối chia cắt địa hình thành từng mảng. Phía đông nam có đường thông thương ra huyện Sơn Hà - Quảng Ngãi. Suối Nước Là dài trên 7 cây số, có nhiều đoạn ao tù, nhiều chỗ thác ghềnh hiểm trở, nhiêu suối khe kết nối với nhau như Nước Rây, Nước Cấp, Nước Bang, Nước Bung... Cả khu vực rộng lớn chỉ có ba nơi tương đối bằng phẳng với diện tích không quá 5 nghìn mét vuông.
Cư ngụ ở vùng rừng núi này chủ yếu là người Cadong luôn một lòng thủy chung son sắt với cách mạng, sẵn sàng xả thân để bảo vệ “cán bộ đằng mình”. Với ta, địa hình khu vực Nước Là là nơi “lý tưởng” để xây dựng mật khu Đỗ Xá nhằm chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài và cam go: Có những dải đất hẹp và phì nhiêu ven sông suối để sản xuất lương thực; có cua đá, cá suối, môn thục, rau dớn... là nguồn thực phẩm dồi dào; có chỗ tiếp nhận và phân tán lực lượng cán bộ và bộ đội chủ lực từ miền Bắc chuyển vào... Với địch, vùng rừng đại ngàn dưới chân núi Ngọc Linh lại là nơi tử địa. Bởi chung quanh có những dãy núi cao chất ngất bao bọc như Ngọc Linh, Ngọc Kip Cang, Ngọc Lập... Đổ quân xuống nơi này, địch rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”...
Căn cứ Nước Là có một vị thế chiến lược cực kỳ quan trọng. Đặc biệt, cây “thuốc giấu” (cây sâm Ngọc Linh) của người Ca Dong, Xê Đăng... là thần dược chữa trị lành bệnh cho bao cán bộ chiến sĩ... Chính vì thế mà Khu ủy Khu 5 đã chọn vùng rừng núi Nam Trà My để xây dựng Mật khu Đỗ Xá ngay sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng. Và căn cứ địa này không những là một mắc xích quan trọng tạo nên hành lang an toàn từ Bắc vào Nam, mà còn là nơi Khu ủy Khu 5 đặt đại bản doanh lãnh đạo phong trào cách mạng ở Tây Nguyên và các tỉnh thuộc vùng đồng bằng duyên hải miền Trung. Theo ông Bảy Nùng - Bí thư Huyện ủy Trà My ngày ấy, lúc bấy giờ đồng chí Võ Chí Công làm Bí thư Khu ủy, Trung tướng Nguyên Đôn làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5.

Các nhà văn Nguyên Ngọc, Vũ Thị Hồng và Nguyễn Chí Trung thăm hỏi cụ Nguyễn Xuân Đồi - người cưu mang Văn nghệ sĩ Khu 5 thời chống Mỹ
Đầu năm 1960, Căn cứ Nước Là đã cơ bản xây dựng xong. Lúc bấy giờ cơ quan Khu ủy ở ngoài Bắc chuyển hết vào mật khu Đỗ Xá, hình thành 7 phòng ban giúp việc cho Khu ủy chỉ đạo các mặt công tác. Đó là Văn phòng Khu ủy, Ban Quân sự, Ban Kinh tế, Ban Tuyên huấn, Ban Binh vận, Ban Giao vận và bộ phận An ninh - xây dựng căn cứ. Văn phòng Khu ủy và cơ quan Thường vụ Khu ủy đóng ở gần sông Tranh, đối diện với làng Tu Du ở xã Trà Cang. Các ban phòng còn lại đóng rải rác ven suối Nước Là.
Đây là nơi Khu ủy vạch ra những chủ trương đường lối cho phong trào cách mạng ở dải đất “Khu 5 dằng dặc khúc ruột miền Trung” đã chuyển sang giai đoạn mới. Đó là đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang. Năm 1960, ta tập kích đồn Đắc Ta và tiến hành cuộc khởi nghĩa Trà Nô giành được thắng lợi vẻ vang. Năm 1961, bộ đội chủ lực phối hợp với bộ đội địa phương đánh bót Trại Tây ở thị trấn Trà My giành thắng lợi lớn. Năm 1962, Khu ủy chỉ đạo tỉnh Quảng Nam và huyện Nam Tam Kỳ phát động quần chúng nổi dậy lật đổ ngụy tề ở xã Kỳ Sanh (nay là xã Tam Mỹ Tây - Núi Thành), mở rộng vùng giải phóng. Nóc Ông Bền và làng Tứ Mỹ nhanh chóng trở thành vùng căn cứ địa cách mạng, nơi các cơ quan của Tỉnh ủy Quảng Nam đứng chân để lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương.
Đương nhiên, Mỹ-ngụy không thể làm ngơ trước tình thế ngày càng bất lợi đối với chúng. Tung thám báo vào vùng rừng núi Nam Trà My thăm dò, địch biết ta đã thành lập Bộ Chỉ huy tiền phương tại chiến trường Khu 5. Bọn chúng sử dụng nữ gián điệp làm mỹ nhân kế để lôi kéo một cán bộ hậu cần của ta về thăm nhà ở đồng bằng. Bị sa ngã vì hiếu sắc hiếu dục, anh ta đã vẽ sơ đồ Mật khu Đỗ Xá cho địch.
Để truy lùng tung tích “Bộ Chỉ huy tiền phương tại chiến trường Khu 5”, địch sử dụng máy bay trinh sát tìm kiếm. Khả nghi trước hiện tượng không bình thường là bỗng dưng có hai chiếc L19 lượn lờ trên bầu trời Nam Trà My, Khu ủy Khu 5 lệnh cho các cơ quan đơn vị gấp rút sơ tán đi nơi khác. Mờ sáng hôm sau, 28-8-1962, địch huy động 3 sư đoàn bộ binh có máy bay và pháo tầm xa yểm trợ, do đích thân tướng Nguyễn Khánh chỉ huy, bất ngờ càn quét vào Mật khu Đỗ Xá từ 3 hướng. Đinh ninh với đội quân tinh nhuệ, lại được trang bị vũ khí hiện đại, bọn chúng sẽ nhanh chóng làm chủ trận địa, đập tan “sào huyệt của Việt cộng”.
Do không lường trước được địa hình quá hiểm trở nên các cánh quân ngụy bị phân chia thành từng cụm đơn lẻ, không thể nào hợp đồng tác chiến đúng theo kế hoạch đã vạch sẵn. Và từ thế chủ động, bọn chúng rơi vào thế bị động, tiến thoái lưỡng nan. Cả 3 sư đoàn bị “kẹt” giữa đại ngàn với hệ thống sông suối chằng chịt như mạng nhện. Pháo tầm xa cũng không phát huy được tác dụng vì những dãy núi cao án ngữ. Và máy bay địch cũng chẳng biết căn cứ của Khu 5 ở đâu giữa mênh mông đại ngàn để mà ném bom. Cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt “cơ quan đầu não của Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5” do tướng Nguyễn Khánh trực tiếp chỉ huy bị chững lại.
Rừng đại ngàn che chở cho ta. Và rừng đại ngàn cản ngăn quân ngụy. Phi pháo cấp tập nã vào các mục tiêu đều trượt ra ngoài. Máy bay phản lực thả bom toàn vào chốn không người. Trực thăng vận bốc quân chỗ này đổ sang chỗ khác vẫn không phát hiện được bóng dáng cộng sản. Càn quét mãi, chỉ tổ làm cho thương vong nhiều thêm vì trúng chông thò, mìn bẫy của du kích gài dày đặc khắp nơi. Bọn chúng hoang mang cực độ. Và rồi bộ đội ta bất ngờ phản công. Không chống đỡ nổi, địch buộc phải tháo chạy khỏi Mật khu Đỗ Xá. Trong quá trình rút lui, các cánh quân ngụy bị bộ đội ta chặn đánh tơi bời. Để giải cứu 3 sư đoàn tinh nhuệ thoát khỏi tình thế bất lợi, tướng Nguyễn Khánh huy động tối đa máy bay phản lực và trực thăng vận đến Mật khu Đỗ Xá, vừa điên cuồng bắn phá, vừa “hốt quân” nhằm bảo toàn lực lượng. Tướng Nguyễn Khánh cay đắng với kết cục trớ trêu. 20 máy bay các loại bị bắn rơi. 600 quân bị tiêu diệt... Nhất là “sĩ khí” của quân lính suy giảm nghiêm trọng, không ít tên thoát chết ở Mật khu Đỗ Xá đã đào bỏ ngũ.

Về thăm căn cứ xưa
Mật khu Đỗ Xá đã trở thành mồ chôn quân thù khi bọn chúng mở cuộc hành quân càn quét với quy mô lớn. Dù trận chiến không cân sức nhưng cuối cùng ta vẫn giành thắng lợi vang dội. Chiến thắng càng khẳng định chủ trương lấy ít đánh nhiều, dựa vào thế trận lòng dân để giam chân và tiêu hao sinh lực địch là hoàn toàn đúng đắn. Đồng thời, qua cuộc “thử lửa” này, vùng rừng núi Trà My đã chứng minh vị thế chiến lược đầy lợi hại, việc xây dựng chiến khu ở mảnh đất có núi Ngọc Linh được mệnh danh là “nóc nhà của miền Nam nước Việt” để kháng chiến lâu dài thể hiện tầm nhìn xa rộng của Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 5.
Sau cuộc hành quân càn quét với quy mô lớn ở vùng rừng núi dưới chân dãy Ngọc Linh do tướng Nguyễn Khánh trực tiếp chỉ huy, địch vẫn không xác định được Mật khu Đỗ Xá nằm ở nơi nào giữa đại ngàn bao la? Dẫu vậy, cơ quan Khu ủy Khu 5 vẫn di chuyển một bộ phận quan trọng đến căn cứ dự phòng ở Nước Oa. Đó là vùng rừng nguyên sinh thuộc xã Trà Tân, huyện Bắc Trà My. Địa thế khu vực này rất thuận lợi cho ta. Phía trước là sông Trường và sông Nước Oa với dòng chảy quanh co uốn lượn, tạo nên những bãi bồi màu mỡ phì nhiêu và liên kết các thung lũng lớn nhỏ cao thấp ở bên trong. Vùng đệm ở phía sau Căn cứ Nước Oa là đại ngàn với nhiều suối khe đồi núi chập chùng trải dài vô tận.
Ông Hà Lân - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân - trong những năm tháng ấy là Phó ban An ninh Khu ủy Khu 5, cho biết: Căn cứ Nước Oa ở gần thị trấn Trà My và cách đồi Mun Luốk của quân viễn chinh Mỹ khoảng 7 cây số theo đường chim bay. Đấy là cứ điểm đầy lợi hại, vừa là tiền đồn bảo vệ căn cứ Chu Lai từ xa, vừa khống chế cả một vùng rộng lớn ở miền tây đất Quảng, cụ thể là hai huyện Trà My - Tiên Phước. Tiểu đoàn 1/46 thuộc Lữ đoàn 196 của Sư đoàn American trấn giữ. Cứ điểm đồi Mun Luốk được bọn chúng xây dựng khá quy mô nhằm chia cắt hành lang tiếp vận, chuyển quân từ Bắc vào Nam, giám sát hoạt động của các đơn vị bộ đội chủ lực, các cơ quan Dân Chính Đảng của Khu ủy Khu 5...
Cao hơn chung quanh, lại có đỉnh khá rộng và bằng phẳng, đồi Mun Luốk trở thành cứ điểm quân sự hết sức lợi hại của quân Mỹ. Ở cứ điểm này, chúng xây dựng sân bay đã chiến, bố trí trận địa pháo tầm xa, trang bị hệ thống thông tin liên lạc và máy móc hiện đại có thể quan sát và theo dõi ở tầm bán kính rộng. Cứ điểm được xây dựng kiên cố với công sự nổi bên trên, hầm ngầm bên dưới. Năm lớp rào thép gai bao bọc và gài mìn dày đặc. Khi màn đêm buông xuống, hệ thống đèn pha quét qua quét lại sáng rực cả một vùng rộng lớn. Ngoài ra, chúng còn bố trí một đại đội lính Mỹ chốt chặn ở các tiền đồn chung quanh, thường xuyên sục sạo, càn quét khắp nơi.
Ngay sát nách địch nhưng Nước Oa hội đủ 3 yếu tố “bất ngờ, táo bạo và đảm bảo bí mật, an toàn tuyệt đối” nên Khu ủy Khu 5 chọn để xây dựng căn cứ. Thực tiễn đã chứng minh quyết định của Khu ủy hoàn toàn sáng suốt. Cuộc kháng chiến chống Mỹ ngày càng cam go khốc liệt. Và các cơ quan Khu ủy, Bộ Tư lệnh Khu 5 đều di chuyển về đây, cả nhà ở và nhà làm việc của các đồng chí Võ Chí Công, Chu Huy Mân và các tướng lĩnh. Hệ thống giao thông hào, hầm trú ẩn, các bộ phận giúp việc, cơ yếu... cũng quần tụ dưới tán lá rừng nguyên sinh.
Chung quanh “tâm điểm” Căn cứ Nước Oa còn có các kho vũ khí đạn dược, quân trang quân dụng, lương thực, thuốc men... với các cơ quan dân chính đảng, an ninh, các đơn vị bộ đội chủ lực ẩn mình ở khắp nơi. Đánh hơi biết “cơ quan đầu não” của Khu 5 nằm đâu đó ở Trà My, địch tung thám báo, biệt kích rừng xanh truy tìm tung tích “thủ đô kháng chiến” của ta, nhằm chỉ điểm cho B52 rải thảm và mở cuộc hành quân với quy mô lớn bao vây tiêu diệt. Bọn chúng lùng sục khắp nơi nhưng đành bất lực không lần ra dấu vết. Bởi bọn chúng không ngờ rằng “thủ đô kháng chiến” Khu 5 chỉ nằm sát nách thị trấn Trà My và cách Cứ điểm đồi Mun Luốk của quân viễn chinh Mỹ khoảng 7 cây số tính theo đường chim bay.

Một góc thị trấn Tân An (Hiệp Đức) hôm nay
Ông Bảy Nùng (tức Nguyễn Ngọc Tân - Bí thư Huyện ủy Trà My trong những năm tháng ấy) cho hay: Từ khi hình thành cơ quan Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 5 đến Đại thắng mùa Xuân 1975 là 17 năm (1959-1975). Trong thời gian đó, cơ quan Khu ủy đã phải di chuyển 12 lần với 3 năm đóng ở vùng rừng núi khu vực giáp ranh giữa Trà My - Phước Sơn, sông Thanh - Nam Giang và Phước Trà - Hiệp Đức. Còn lại 14 năm, Trà My vẫn là “thủ đô kháng chiến” của Khu 5. Quân viễn chinh Mỹ chốt giữ Cứ điểm đồi Mun Luốk đã cô lập “thủ đô kháng chiến” Khu 5 bí mật đóng tại Nước Oa và phong tỏa hành lang nối với các căn cứ địa phụ cận ở Phước Sơn, Hiệp Đức, Thăng Bình, Tiên Phước, Núi Thành và vùng rừng núi Kon Tum, Quảng Ngãi. Chính vì thế, Khu ủy chỉ đạo Bộ Tư lệnh Khu 5 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn Đặc công 409 bằng mọi giá và mọi cách xóa sổ cứ điểm đồi Mun Luốk.
Tháng 8-1970, Tiểu đoàn Đặc công 409 di chuyển dần lực lượng từ Phương Đông - Dương Yên về phía tây bắc Trà Đốc, lập đài quan sát đặt trên đồi Mun Dzoaln để theo dõi mọi động tĩnh của quân Mỹ ở cứ điểm đồi Mun Luốk. Nhờ vậy, sau một thời gian, ta đã nắm được quy luật chung của chúng. Máy bay lên thẳng hạ - cất cánh lúc nào, trận địa pháo bắn bao nhiêu lượt mỗi ngày, mấy lần chúng thay phiên nhau đi lấy nước từ con suối nhỏ dưới chân đồi Mun Luốk... ta đều biết rõ. Bên cạnh đó, đơn vị cũng liên tiếp tổ chức nhiều đợt tiềm nhập vào bên trong cứ điểm của chúng để điều nghiên kỹ lưỡng, chính xác các công sự, hầm ngầm, các vị trí bố phòng hỏa lực mạnh, các địa điểm canh gác... Và sau gần ba tháng, đơn vị đã vẽ được sơ đồ cụ thể Cứ điểm đồi Mun Luốk.
Sang năm 1971, Tiểu đoàn Đặc công 409 hoàn thiện các phương án tác chiến. Song điều không ngờ tới là, đơn vị đã bị lộ ba lần, suýt phải hủy bỏ kế hoạch xóa sổ cứ điểm đồi Mun Luốk. Lần thứ nhất, bọn Mỹ lết tình cờ phục bắt được một chiến sĩ của đơn vị trên đường đi công tác. Lần thứ hai, gần một tháng sau, bọn biệt kích Mỹ lại vây bắt được một chiến sĩ trinh sát của đơn vị. Không khai thác được gì, chúng giết hại đồng chí ấy. Tuy vậy, chúng cũng đánh hơi thấy có bộ đội chủ lực xuất hiện nên điên cuồng đánh phá dữ dội bằng pháo tầm xa, bằng máy bay oanh tạc vào khu vực Trà Tân, Trà Bui. Đơn vị buộc phải rút lui về căn cứ án binh bất động. Mãi đến cuối tháng 3-1971 đơn vị mới làm lễ xuất quân.
Từ nóc Ông Nguyên ở tận Dương Yên, Phương Đông, đơn vị lặng lẽ di chuyển về hướng Trà Đốc. Rạng sáng ngày 27-3-1971, tất cả đã đến vị trí tập kết an toàn. Trong lúc Ban chỉ huy Tiểu đoàn chuẩn bị truyền đạt mệnh lệnh hợp đồng chiến đấu thì trinh sát đơn vị báo tin: Biệt kích Mỹ đang tiến gần tới vị trí tập kết. Còn trên trời, hai chiếc máy bay trực thăng vũ trang cùng với máy bay trinh sát L19 cũng đang quần qua đảo lại, săm soi, dòm ngó từng vạt rừng, bờ khe, con suối... Sau khi hội ý chớp nhoáng, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Khắc Minh cho đơn vị lập tức triển khai theo phương án hai và kiên quyết tiến công cứ điểm đồi Mun Luốk đúng như kế hoạch đã vạch ra.

Khu di tích Căn cứ Phước Trà (Hiệp Đức).
Ở vào thế hoàn toàn bị động, quân Mỹ hầu như không có sự chống cự nào đáng kể. Ta nhanh chóng làm chủ chiến trường, đột nhập xuống từng hầm ngầm ném thủ pháo vào. Sau hơn ba mươi phút tấn công quyết liệt, quân ta đã tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 1/46 thuộc Lữ đoàn 196 của Sư đoàn American. Mờ sáng hôm sau, bọn chúng đưa quân Mỹ từ Quảng Ngãi ra để canh giữ, bảo vệ cho máy bay chở số lính tử vong về. Trong hai ngày chúng phòng thủ để chuyển xác, du kích Trà Đốc đánh chặn quân Mỹ đi càn quét dưới đất, bắn máy bay Mỹ trên trời. Kết quả, đã bắn rớt một chiếc tàu rọ, một máy bay trực thăng vũ trang HU1A và một máy bay vận tải Bukota. Bị thua đau, tháng 4-1971 quân Mỹ rút khỏi Cứ điểm đồi Mun Luốk và rút cả tiểu đoàn lính Mỹ đóng tại cứ điểm ở trung tâm huyện Tiên Phước. Miền tây đất Quảng không còn bóng dáng quân viễn chinh Mỹ...Và khi trời sập tối, 91 cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn Đặc công 409 được trang bị súng tiểu liên, thủ pháo, bộc phá và B40 chia làm 8 mũi, lặng lẽ áp sát mục tiêu. Lọt qua hai lớp rào thép gai bùng nhùng, bất ngờ mũi đánh vào trận địa pháo bị đèn pha địch quét trúng đội hình. Nhờ hóa trang kỹ và bình tĩnh đối phó nên quân Mỹ không phát hiện được. Đúng giờ G, bảy mũi tiến công đã lọt vào bên trong cứ điểm đồi Mun Luốk. Riêng mũi chủ yếu vẫn còn ở bên ngoài lớp rào cuối cùng. Và bất chợt có hai tên Mỹ đi tuần tra trông thấy các chiến sĩ ta đang tìm cách tiến sâu vào bên trong. Lập tức mũi chủ yếu dùng bộc phá mở rào và cùng với bảy mũi khác đột nhập vào trung tâm cứ điểm. Tiếng súng tiểu liên nhả đạn từng tràn. Tiếng bộc phá, thủ pháo và B40 nổ rền vang. Những ánh chớp nhoáng nhoàng nối tiếp nhau trùm lên cứ điểm. Các công sự nổi ở hai mỏm đồi cũng như ở trận địa pháo và sân bay dã chiến bị bộc phá giật tung, B40 bắn sập. Quân Mỹ thương vong khá nặng. Số sống sót vội chui xuống các hầm ngầm, hoặc chạy thục mạng ra ngoài hàng rào để rồi tự kết liễu cuộc đời bởi mìn bẫy do chính bọn chúng gài dày đặc. Trận đánh gay cấn và dữ dội nhanh chóng chuyển sang giai đoạn mới: Tấn công các hầm ngầm kiên cố bằng bộc phá và thủ pháo...
Cuối 1972, ta giành được những thắng lợi to lớn cả về ngoại giao lẫn quân sự, tình hình ở miền Nam nhanh chóng thay đổi theo hướng bất lợi cho địch - có lợi cho ta. Riêng tại chiến trường Khu 5, vùng giải phóng không ngừng được mở rộng. Sau Hiệp định Paris-1973, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 5 quyết định dời đại bản doanh từ Căn cứ Nước Oa ở Bắc Trà My xuống Phước Trà - Hiệp Đức nhằm chỉ đạo các địa phương giữ vững vùng giải phóng, chống địch thực hiện chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, “lấn đất, giành dân”. Toàn bộ Căn cứ Nước Oa được chuyển giao cho hậu phương xây dựng Trạm thực nghiệm lâm sinh nghiên cứu gieo ươm các loại cây giống để sau này phục vụ cho việc tái kiến thiết đất nước.

Cán bộ và nhân dân Bắc Trà My kỷ niệm chiến thắng đồi Mun Luốk.
Căn cứ Phước Trà nằm về phía tây thị trấn Tân An và cách trung tâm huyện Hiệp Đức khoảng 15 cây số, tọa lạc ở khu rừng già bên kia sông Tranh. Lúc bấy giờ tình hình chiến sự ở miền tây đất Quảng không còn căng thẳng như những năm 1969-1971. Lầu Năm Góc đã rút quân viễn chinh Mỹ khỏi chiến trường miền Nam và thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Tuy nhiên, quân ngụy bị tiêu hao sinh lực quá nhiều qua những trận đánh lớn ở khắp nơi nên buộc phải co cụm lại phòng thủ là chính. Vì vậy, ta xây dựng Căn cứ Phước Trà khá thuận lợi.
Căn cứ Phước Trà gồm cơ quan Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 5 đóng rải rác dưới tán lá rừng. Ngoài nhà ở, nhà làm việc của Bí thư Khu ủy, Tư lệnh Khu 5, còn có nhà khách, hội trường, sân bóng chuyền và các cơ quan giúp việc cho Khu ủy. Hệ thống giao thông hào, hầm trú ẩn... cũng được bố trí hợp lý. Tại Căn cứ Phước Trà là nơi diễn ra nhiều sự kiện trọng đại như Đại hội lần thứ 3 của Đảng bộ Khu ủy, hội nghị bàn về chiến lược quân sự để đánh bại chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, “lấn đất, giành dân” sau Hiệp định Paris - 1973 của địch. Đây cũng là nơi tổ chức nhiều lớp tập huấn cho cán bộ quân dân chính ở các tỉnh thành về tình hình cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới.
Chỉ tồn tại trong vòng 2 năm nhưng Căn cứ Phước Trà có tầm quan trọng đặc biệt. Bởi chính nơi này, Khu ủy Khu 5 đã họp bàn và đề ra kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Cùng với Buôn Ma Thuột - Tây Nguyên, Tiên Phước được chọn làm nơi nổ phát súng lệnh đầu tiên mở màn cuộc tổng tiến công ở mảnh đất Khu 5. Đối với tỉnh lỵ Quảng Tín, Tiên Phước là “tấm lá chắn” của cửa ngõ phía tây.
Trấn giữ ở đây có Liên đoàn Địa phương quân 916 với trận địa pháo 105 ly đặt tại đồi Mù U (khu vực giáp ranh giữa thị trấn Tiên Kỳ với xã Tiên Thọ), Tiểu đoàn Biệt động quân 77 và các Liên trung đội Nghĩa quân ở các xã (ước tính quân số gần cả lữ đoàn) chốt chặn ở các đồn Dương Bướm, Dương Ươi, Dương Hợi, Gò Cao, Hố Tre, Gò Mè, Động Sinh... Ngoài ra, tại Chi khu Quân sự Tiên Phước và Đồi Cao Phước Mỹ (điểm cao 211) địch bố trí lực lượng thiện chiến được trang bị vũ khí, khí tài hiện đại. Vào sáng 10-3-1975, sau khi bắn cấp tập pháo 130 ly vào các vị trí bố phòng xung yếu của địch, ta đồng loạt tiến công và làm chủ trung tâm quận lỵ Tiên Phước. Đến xế chiều cùng ngày Tiên Phước được hoàn toàn giải phóng.
Chủ động tiến công và tiến công. Với thế chiến thắng như chẻ tre, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 5 chỉ đạo các đơn vị bộ đội chủ lực phối hợp với các đơn vị bộ đội địa phương thọc sâu xuống vùng đồng bằng. Địch phản công quyết liệt. Cầm cự được 14 ngày thì cụm cứ điểm Suối Đá ở xã Tam Dân - Phú Ninh thất thủ, quân ngụy bỏ chạy thục mạng... Đến trưa 24-3, ta đánh chiếm tỉnh đường Quảng Tín, giải phóng quận Tam Kỳ. Quốc lộ 1A bị cắt đứt hoàn toàn. Quân ngụy buộc phải rút về co cụm tại Đà Nẵng để rồi 5 ngày sau tháo chạy tán loạn bằng đường biển.
Trưa ngày 29-3-1975, lá cờ giải phóng phấp phới tung bay trên nóc Tòa thị chính thành phố Đà Nẵng trong niềm hân hoan phấn khởi của bao người. Từ Căn cứ Phước Trà đến thành phố Đà Nẵng chỉ cách xa chưa đầy 100 cây số nhưng phải mất hai năm để chuẩn bị cho Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 5 cùng với các cánh quân mới trở về “thành phố thân yêu” với tư thế của những người chiến thắng. Và từ Đà Nẵng, Quân giải phóng Khu 5 lại lên đường “Nam tiến” tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam vào trưa ngày 30-4-1975 lịch sử.
Mới đó mà đã 35 năm. Căn cứ Nước Là, Nước Oa và Phước Trà - những địa điểm Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 5 đặt đại bản doanh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ - đã được xếp hạng “Di tích lịch sử Quốc gia”. Cả ba nơi ấy đã trở thành địa chỉ đỏ, ghi dấu “thủ đô kháng chiến” Khu 5 trong hành trình giải phóng quê hương. Và những nơi ấy mãi mãi là niềm tự hào của người dân đất Quảng nói riêng, cả nước nói chung...
Video Trường PTDTNT Nước Oa Huyện Bắc Trà My:
Video Ký sự Về miền Đất Quảng - Bắc Trà My: