.jpg)
KÝ ỨC VỀ MỘT LÀNG QUÊ
Mông Lãnh, Phù Sa

Cổng Làng, thôn văn hóa Phù Sa
Sinh ra và lớn lên tại tổ 3 thôn Phù Sa, làng Mông Lãnh, xã Quế Xuân 1, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, tôi đã ở đó từ lúc nhỏ cho đến bây giờ nên cũng hiểu được phần nào về thôn mình, về cuộc sống quanh năm bám ruộng, bám đồng của nhà nông, làm bạn với cái cuốc, cái cày và con trâu, con bò, làm nên cây trái, hoa màu, lúa gạo, bắt tôm, bắt tép, bắt hến, mò cua trên dòng sông Bà Rén mỗi ngày. Và cuộc sống của người dân bản địa nơi đây đã bắt đầu từ đó.

Nhà sinh hoạt văn hóa thôn Phù Sa
Sáng thức dậy, khi gà gáy canh tư, mọi người quanh làng trên xóm dưới đã tụ tập cùng nhau với các hoạt động chào ngày mới thật nhộn nhịp. Bọn trẻ thì lo chuẩn bị sách vở để đi học, Thầy Cô giáo cũng lên đường đi dạy thật sớm. May mắn hơn khi tôi được sinh ra tại ngôi làng mà hầu như cách vài ba cái nhà là có một Thầy hoặc một Cô giáo. Có nhà có cả hai giáo viên và ba má tôi cũng nằm trong số đó.
Người cao tuổi như ông già, bà cả hay ngang lứa tuổi ba mẹ tôi đều ra sân vườn tập thể dục, có mấy bác rủ ba tôi đạp xe quanh qua cánh đồng làng quen thuộc mà hầu như sáng chiều nào cũng hai lần ngang đó. Các bác ấy bảo, đạp xe như thế là vui lắm con ạ, vừa đạp vừa nói chuyện, ai có sức thì đạp nhanh một hồi rồi chậm lại, ai không đủ khỏe thì đạp vừa vừa, chầm chậm, “lật đật cũng tới bến giang, lang thang cũng tới bến đò” mà, nên cứ thế một động tác nhịp nhàng quay từng vòng xe lăn bánh trên con đường bê tông trải quanh cánh đồng rộng thẳng cánh cò bay. Đôi lúc mỏi, các bác ấy lại dắt bộ một đoạn, vừa tâm sự chuyện ngày hôm qua, hôm kia, hôm tê… mà cười sảng khoái, hít thở bầu không khí trong lành sáng sớm.
Từng bước chân trên đoạn đường về
Băng qua đồng lúa đậm tình quê
Bộ tứ Ba tôi mỗi sáng sớm
Độc bước thênh thang ngắm sen hồng.
Ngày nào cũng vậy bình minh tới
Bác mặt trời lên đã gọi mời
Thênh thang bên lối bờ kênh nhỏ
Thể dục thể thao trẻ khỏe ra.....

Tứ trụ Phù Sa
Canh tư gà gáy chưa kịp sáng, màn đêm vẫn còn hư ảo, ấy vậy mà các Ba Ba dậy sớm, đến hẹn lại lên, một chốc sau đã điểm danh đủ bộ tứ và đạp xe rồi đi tản bộ dưới đập Pa Ra(cầu Cửa Khâu). Vừa đi vừa hít thở không khí trong lành, đón cơn gió ban sớm thổi sang mát dịu, vừa tâm tình to nhỏ chuyện của ngày hôm qua nghe có vẻ thân thuộc và gần gũi làm sao! Chiều nào cũng thế! vẫn là bộ tứ đạp xe băng qua cánh đồng lúa xanh non mơn mởn, ngắm cảnh quê! lúa đang thì con gái là giai đoạn đẹp nhất, xanh um một màu, thích thật đấy! Càng ngày thấy các Ba hăng say tranh thủ thời gian rỗi sáng và chiều để đi bộ và vận động cơ bắp nên sức khỏe dẻo dai, săn chắc, tự mình chăm lo bản thân ở cái tuổi xế chiều.... Hôm nay về lại thăm quê, đứng từ xa con chụp vội mấy tấm hình, nhìn có vẻ như một đội rất đoàn kết, rất gắn bó, rất thân thiện, bộ tứ ông Ba cùng khởi động, cùng xuất phát, cùng tăng tốc và cùng về đích! Mãi phát huy Tứ trụ Phù sa này Ba Ba nhé! vẫn còn phong độ lắm mặc dù mới U lục thập thôi!

Con trâu đi trước, cái cày theo sau
Ba mươi phút đã qua, bắt đầu công việc của một ngày mới lên. Các bác nhà nông hay có thói quen ra đồng sớm, có khi đến mùa gieo sạ thì bận rộn hơn. Công tác chuẩn bị làm đất, cuốc, cày, bừa cho đất tơi nhỏ ra (trước đây chưa có máy cày thì tự cuốc đất, dùng con trâu, con bò to khỏe để cày những thửa ruộng, sau đó bừa cho mịn nhỏ và xả nước ở kênh mươn vào cho ướt đều, rấm đất rồi dùng cái trang bang ra cho bằng phẳng để gieo giống cho dễ dàng). Sau khi đã ngâm, ủ giống lúa và ngót cho ra mầm, rồi mới gánh vào và vải lên thửa ruộng đã làm sẵn, từng bàn tay nhanh thoăn thoắt, vải đều, hạt nào hạt nấy xuống đất mà đẹp mắt . Làm nông, bà con ai cũng có kinh nghiệm làm rất chỉnh chu và nhìn từng đám ruộng sau khi vải giống trông bắt mắt.

Gieo hạt giống xuống bùn
Vài ngày sau chờ mạ nhú lên, một màu xanh non mơn mởn, đến lúc phải vải phân và bơm thuốc lúa cho khỏi sâu bọ, định kỳ như thế, ngày nào họ cũng theo dõi, chăm sóc, trổ nước cho đúng lịch cho đến khi lúa trổ đòng đẹp làm sao! Nhìn hạt sữa gạo đong đầy ở cây lúa mà ưng chi lạ.

Em đi trên cỏ non- con đường liu xiu nhỏ dọc bờ men cách từng đám ruộng mạ
Do chăm bón kỹ nên đến mùa thu hoạch đạt chỉ tiêu là chuyện đương nhiên. Cũng có khi không trọn vẹn lắm do bị hư hại bởi thiên tai bất thường và những yếu tố khác tác động vào. Sợ nhất là mưa, lụt sẽ ngập và làm úng lúa, cây sẽ trĩu nặngvà oằn cong nằm bẹp xuống đất, năm đó ắt sẽ bị mất mùa. Làm nông không dễ, nhưng tại thiên tai xảy ra làm thất bát vụ mùa mà thôi.

Con trâu- người bạn thân thiết của nhà nông
Rời công việc đồng án trở về nhà, chiều chiều có một số cô chú lại ra sông bắt hến, tôm, cá… vốn dĩ ở gần sát ven sông nên công việc này đối với họ thật dễ dàng. Quen với sông nước nên rất đỗi bình thường, đó là công việc làm ra cái ăn hàng ngày nên không thể chối từ.

Dòng sông Bà Rén
Hết việc ruộng mạ, đến việc trồng hoa màu các loại, mỗi nhà hầu như đều có một mảnh đất riêng để trồng trọt, cây trái đều có suốt quanh năm. Nhà nào là mận, mít, ổi, ớt… Nhiều nhất là chuối lùn đóng đô, chuối lùn là một loại quả rất bổ dưỡng chứa nhiều vitamin, giúp nhuận tràng tốt…nên nhà nào cũng trồng nó. Hễ đến mùa này, lập Đông là chuối chín hàng loạt, có khi cả vườn, mỗi lần chín là cả buồng gồm trên dưới chục nải, có thể đem ra chợ bán, hoặc ăn, hoặc biếu tặng người quen. Như nhà tôi, tranh thủ giờ rảnh rỗi, ba hay cuốc đât, dẩy sạch cỏ quanh vườn để trồng rau lang, gieo cải, tầng ô, ngò, xà lách……

Ngày trước khi ông nội tôi còn sống, ông đã quen nghề làm vườn cùng các bác làm nông, hầu hết nhà nào có vườn cũng đều trồng trọt và trồng rất nhiều trái, ông làm giàn tre và cho bầu,bí,mướp,khổ qua leo lên giàn; ở dưới đất thì trồng sắn, bắp trái, trỉa đậu phộng, đậu đen, đậu xanh, đậu ván, đậu ngự…. ông thật khéo tay, trồng gì thu hoạch nấy, bốn mùa có ăn mà khỏi đi chợ, thậm chí nếu trĩu quả thì thu hoạch ra chợ bán, kiếm đồng cơm cháo qua ngày.

Ông có nghề đan tre nan, đan ghe để chèo lái mỗi khi lũ lụt đến mùa, ông đan thúng, mủng, nong, nia để gánh gồng các thứ, ai đặt thì làm cho người ta, đan phênh tre để làm bức tường che chắn nhà cửa, chuồng trại…. Thời đó còn có ông nội Năm Châu, ông nội Trường (bạn của ông) cũng gắn bó với nghề nan này và bên họ hàng nhà ngoại cũng có ông Ngoại Trưng vỗn cũng miệt mài bên nan tre làm tôi sực nhớ hai câu thơ mà Nhà văn Huỳnh Văn Thống (Quế Sơn) đã viết:
"Ông ngồi vót mắt nhòa trong nóng bức
Chiếc nan tre gập gãy giữa đời buồn"

Chỉ tiếc rằng không đứa con cháu nào theo nghề ấy cả. Và giờ khi đã nhắm mắt xuôi tay không còn gặp lại ông nữa nhưng tôi vẫn nhớ hoài công việc nhà nông gắn bó với ông như một người bạn thân thiết.
Một số em bé đi học về tranh thủ ra đồng chăn trâu, giữ bò, tranh thủ lúc bò trâu say sưa gặm cỏ mà nhảy xuống sông tắm mát. Có đám trẻ thì chạy nhảy quanh đồng ruộng thả diều thế mà vui. Một số khác lại tụm năm tụm bảy chơi ô làng(ô ăn quan), số khác thì bắn bi, nhảy lò cò.... chừng đó trò chơi dân gian quen thuộc mà ý nghĩa, tuổi thơ thật đẹp như một giấc mơ.
Ngày xưa là thế, con nhà nghèo ham học, chỉ biết học mà thôi, chơi thì những trò trẻ con mà thú vị vì bọn chúng ý thức được gia cảnh lớn lên từ gốc rạ, bờ tre nên không đua đòi mấy, chỉ biết đi học, về là lăn vô giúp đỡ ba mẹ những công việc lặt vặt đơn giản trong nhà, ngoài đồng, nếu có thể làm được. Cuộc sống êm đềm cứ thế diễn ra trên làng quê bình dị mà ấm lòng.
Quay trở lại công việc đồng án, tuy cơ cực một chút do đầu mùa gieo sạ, giữa mùa dặm sạ và cấy lúa nếu ruộng sưa và thích hợp với dạng trũng thấp. Xong giai đoạn này; các cô, các mẹ, các chị em lại về với công việc chằm nón lá. Họ tụ tập lại năm bảy cô, vút từng chiếc lá và chằm vào khung có sẵn, chỉ vót vành nan tre và ướm vào cho vừa vặn khớp với từng nấc, thế là tạo ra cái khung và cứ thế xếp lá vào, từng đường kim múi chỉ bằng sợi cước cứ luồng lên lèo xuống chắc nịch ấy. Chiếc nón lá đã làm nên nét đẹp cho người phụ nữ Việt từ bao đời nay.

Nón lá có công dụng che nắng che mưa mỗi khi đi chợ hay đi ra đồng ruộng làm việc. Nón lá có thể dùng để phục vụ cho nghệ thuật văn hóa văn nghệ với những điệu múa có nội dung về quê hương đất nước Việt Nam ta. Nón lá có thể trang trí viết vẽ lên đó làm đẹp thêm cho các cổng trại mỗi khi có lễ lớn hoặc hội trại nhà nông do địa phương tổ chức.
Sau những cơn mưa dầm dề lê thê của chuỗi ngày Đông giá rét, sau vụ Hè-Thu, đồng ruộng nghỉ ngơi chờ qua cơn lũ lụt thường niên, rồi mùa lại đến bà con quê tôi còn vác những cái lồng cái nơm ra ruộng ra sông để nhuỗi cá, úp cá.

Lội xuống từng đám ruộng ngập nước tha hồ lội và úp, bắt cá. Nào là cá rô phi, cá diếc, cá trê, cá tràu (cá quả,cá lóc)… chúng nó giẫy dụa búng tung lên thích ghê.

Trở về nhà chuẩn bị nhen nhóm củi lửa, lò than để xếp chúng lên vỉ nướng. Ui chu choa cái mùi cá nướng thơm nứt bốc lên làm cái vị giác và khứu giác nó cứ kích thích hoài. Nướng xong, làm chén nước mắm tỏi, ớt thật cay ngon rưới lên cá chắc là hết cả nồi cơm chiều muộn.

Bên dưới nhà tôi cách vài ba cái nhà, có ông nội Tỉnh và chú Phan Trường Âu (con trai út) của ông vẫn đang làm ở cơ sở sản xuất “Bánh quế dừa” tại gia nóng hổi.

Bánh quế dừa Ocop 3 sao
Trời tờ mờ sáng, hai vợ chồng chú dậy sớm để chuẩn bị đốt lò, khuôn viên rộng chữ L là nơi làm gian bếp với 18 cái chảo nướng. Với công thức đã chuẩn bị sẵn, cô chú ấy đã pha bột với thành phần gồm các nguyên liệu như bột mì, đường cát, bột quế, mè đen, nước cốt dừa…sau khi trộn lẫn các thứ và pha theo tỉ lệ đã chia sao cho đủ với số lượng bánh sản xuất trong buổi là được.

Chú Phan Trường Âu (chủ cơ sở bánh)
Ngày làm hai ca sáng chiều và theo giờ hành chính 8 tiếng với 4 người thợ từ khâu đổ bột lên chảo nướng bánh, lật qua lật lại rắc mè đen lên cho đến khi bánh chín vàng đều là đem ra uốn cong và đóng gói. Ngày nào cô cũng có đơn order khách đặt hàng và chú đi giao cho đúng hẹn. Nếu bạn có dịp về thôn Phù Sa thì đừng đừng quên ghé nhà ông để ăn cái bánh gia truyền thủ công nhà làm bằng tay nhé!

Ông Phan Văn Lục-87 tuổi(thường gọi là ông nội Tỉnh-Ba của chú Phan Trường Âu-chủ cơ sở sản xuất Bánh quế dừa)
Đi qua hai cái nhà nữa, ta bắt gặp một công việc không xa lạ mấy đó là nghề “chẻ tre đan giỏ” của chú Bảy. Ngồi chăm chú vót thành cộng nan tre mà say sưa làm sao. Chú đan giỏ tre để nhốt heo, gà,vịt… mỗi khi xuất xưởng đi ra chợ bán hoặc khi mưa lũ tràn về, giỏ tre sẽ nhốt các con vật ấy vào cách ly khỏi mặt nước. Rất tiện lợi, quen với việc này, chú có thể đan mấy chục cái giỏ mỗi ngày tùy kích cỡ lớn nhỏ do trọng lượng khác nhau. Vất vả đôi chút, mồ hôi lấm tấm mà vui, vì đó là mưu sinh nên phải như thế! Rồi bất chợt một ngày trái gió trở trời, không may chú lâm bệnh và giường như sự sống không mỉm cười với cuộc đời chú. Vậy là chú đã đi xa mãi mãi qua tận thế giới bên kia, để lại nỗi xót xa vô hạn cho gia đình, cho bà con chòm xóm, họ hàng gần xa. Hễ mỗi lần nhắc đến nghề chẻ tre đan giỏ là ai cũng nhớ đến hình ảnh quá quen thuộc mà ngày nao chú cũng miệt mài ngồi vót trước hiên nhà.
Rẽ xuống xóm dưới một đoạn có nhà bà Ngàn, một đời chung thủy với nghề làm “Bánh bèo”. Thức dậy 3 giờ sáng, hai ông bà nhen nhóm bếp củi để chuẩn bị. Ông phụ bà xay bột gạo và đổ vào chén, sau khi nhóm lò xong là bà ngồi lấy từng chén bột thả vào nồi nước sôi để hấp, canh cho ở giữa chén có cái tròng bột đến lúc đặc quánh lại là đem ra. Nhìn từng chén đều đặn như khuôn đúc mà mê lắm luôn ý.

Sau đó bà làm nhưng bánh bằng tôm, thịt heo bằm nhuyễn ra và thêm gia vị ướp vào um lên cho sệc lại. Ông rang đậu phộng bóc vỏ giã nhuyễn ra rồi pha nước mắm ớt để chấm. Bà nhặt hành lá thái nhỏ lắc rắc lên trên, phi dầu phộng với hành để thoa lên trên bánh trước khi đổ nhân lên. Nhìn cái bánh ngon chi lạ với đầy đủ các công thức chế biến là bí quyết riêng mà ngon ra phếch. Chỉ cần ăn thử một chén thôi đã thấy ghiền. Và cứ thế mỗi sáng nào cũng theo lệ thường, công việc quen thuộc của ông bà làm bánh xong thì bà đẩy xe đi bán quanh làng trên xóm dưới. Nhà nào cũng thích ăn bánh bèo bà làm mà vui. Giờ đây tuổi đã cao, sức đã yếu bà mới nghỉ ngơi và truyền nghề lại cho con cháu. Hễ mỗi lần ăn bánh này là gợi cho tôi nhớ về thương hiệu “Bánh bèo bà Ngàn” rất ngon, bạn có thể ăn từ năm đến chục chén vẫn không ớn.

Bánh bèo truyền thống từ xưa đến nay
Đi một đoạn dọc con đường bê tông rẽ ngay xuống đường nhỏ dẫn lối vào bờ ruộng là nhà bác Mười Nhỉ với nghề nấu “sữa đậu nành” và “đậu hủ”. Đã quen rồi mỗi rạng sáng khi gà gáy canh tư, hai bác ấy lại thức dậy ngâm bột đậu nành để xay. Ngày trước xay bằng tay trên cái cối đá, từng vòng quay nhè nhẹ cho bột mịn lăn tròn xung quanh chiếc cối, vét ra cái bã, rồi lấy nước ở bên dưới để nấu.

Cối xay bột gạo
Ngày nay thay tay bằng máy, chỉ cần cắm điện, bỏ hạt đậu nành đã ngâm nước vào máy là xay, đợi khi ra nước xong, vắt bã qua bên, thế là cho vào nồi nấu. Nhen nhóm bếp củi và nấu sục sôi một nồi khá to tướng. Khi chín đem ra chia hai phần, một phần là sữa để riêng và phần kia để nấu đậu hủ thì cho vào nồi có thoa thạch sẵn bên trong. Đợi vài phút là nó đông lại và người ta gọi món đó là đậu hủ.

Tiếp theo là pha nước đường bằng cách chặt cục đường tán(đường bát) ra và cho nước vào nồi nấu. Đợi khi sôi cho đường nhuyễn ra thì canh thắng đường sao cho lấy được lớp ngon nhất, nước đường bóng láng, sáng, không cát không lợn cợn, giã chút gừng bỏ vào cho thơm. Múc ra chén, chan vài muỗng đường lên trên bề mặt đậu, thưởng thức rất là ngon.

Một ngày hai lần vào bữa sáng và nửa buổi chiều bác ấy chở trên xe đạp hai cái giỏ nhựa xanh, cho vào đó nồi đậu và chén bát. Cứ thế đi rao bán khắp xóm mà vui. Bất kể nắng hay mưa, không ngại nơi ngõ hẻm, với cái nghề nuôi sống cả gia đình, bác vẫn chuyên tâm làm vì cuộc sống mưu sinh.
.jpg)
Cô Ánh (Vợ Bác Mười Nhỉ)
Khi bà nội tôi còn sống, bà làm bún mắm. Sáng canh ba thức dậy, bà ngâm bột gạo từ tối và đem ra xay. Với công thức đơn giản bà đã làm nên những cộng bún dài nhỏ và bắt mắt bằng tay. Sau đó pha nước mắm các loại và gánh ra chợ bán.

Những năm 70,80 bà chuyển sang nghề làm chổi đót, nghe ba má tôi kể lại, giai đoạn đó rất gian khổ, lúc tôi chưa được sinh ra, thời đó một buổi đi dạy, một buổi má tôi về phụ làm chổi, tuốt từng cộng đót và bện thành cây chổi để quét nhà. Thật công phu và đẹp mắt với từng đường nét xỏ dây thắt lại đều răn, buộc chặt nuộc mây, nuộc dây nhựa cho chắc chắn. Nhìn cây chổi to, cầm tay có vẻ hơi nặng, tán rộng xòe ra khi quét với cảm giác rất sạch, rác sẽ đi nhanh hơn. Sau khi bà qua đời thì ông nội em bà và chú Vũ con ông nội lại tiếp tục nghề này. Chú đã tự đi mua cây về làm chổi, suốt bao nhiêu năm gắn bó bên cái nghề này để lo cho cuộc sống tốt hơn. Có một hôm về lại quê và tôi đã ghé sang thăm cơ ngơi của chú, nhìn mà không nghĩ ra, cơ sở đó đã duy trì và tồn tại cho đến bây giờ.

Giữa thập niên 80 khi tôi đã ra đời, má tôi lại chuyển sang nghề bán tạp hóa bánh kẹo…, ba tôi làm đủ các loại nhưng ba chỉ kể về món mà làm cho ba có nhiều kỷ niệm nhất đó là “kẹo ú”. Đêm nào cũng thức khuya để làm món này thủ công bằng tay. Nhìn từng cách ba đánh bột với đường đen cục thắng lên nhào bột quyện vào nhau thật nhuyễn rồi đóng cái cây lên tường quánh cái cục kẹo to chà bá theo từng động tác nhịp nhàng đến khi dẻo đặc sánh quánh lại là ba lăn trải ra chiếc mâm có lót lớp áo bột lên và lăn ra mỏng nhỏ, sau đó dùng kéo cắt ra thành hình như chiếc bánh ú, trông đẹp mắt làm sao, bọn trẻ nhìn mà mê. Thích nhất là lúc đợi ba làm xong cắt cho ăn thử, ui ngon cực kì.

Bên cạnh những nghề thủ công bằng tay, Làng tôi còn có thêm một nghề gắn liền với sông nước nữa đó là trồng sen. Hằng năm cứ sau dịp tết cổ truyền tháng Giêng, bà con ở dưới tổ 4 bắt đầu trồng sen. sen lác đác đầu tháng Ba, đến độ hai mươi ngày tiếp theo sẽ có búp. Khi đến một tháng sau khoảng cuối tháng 5 sẽ nở rộ, hơn ba mươi ngày nữa là thời điểm đẹp nhất khoe sắc áo hồng trên đập Pa Ra (Cửa Khâu). Nếu bạn đến quê tôi đúng dịp này thì sẽ tha hồ chèo ghe lướt nhẹ trên đầm để chụp hình và ngắm chúng. Nhìn búp màu hồng xác pháo bung ra to tròn xoe hé lộ nhị vàng óng ánh mà thích chi lạ. Mỗi lần về thăm quê nhà xứ Quảng làm tôi ngây ngất khi nhìn đầm sen mênh mông, bao la, bát ngát mà ngẫu hứng lại bất chợt:
.jpg)
Anh có về Phù sa quê em không?
Nắng vàng tươi trải nhẹ khắp cánh đồng
Sen hồng đóa tỏa hương thơm dào dạt
E ấp nụ cười người con gái Quảng Nam.
Anh có về cùng em ngắm đầm sen?
Lá xòe to đón ánh mặt trời vàng
Búp nhú lên vươn mình ra ánh sáng
Bông nở rộ khoe màu áo mới tinh.
Anh có về quê mẹ đón bình minh?
Ngày mới ghé thăm, đượm thắm chút tình
Đất và quê đậm đà xứ Quảng
Người dân mình chân chất mộc mạc thêm!
Anh có về cùng em ngắm trăng thanh
Cuối bờ đê ngọn gió thổi mát lành
Con đường nhỏ liu xiu quen thuộc lắm
Rẽ lối về Mông Lãnh, Phù sa thôn.
Anh có về đêm hội trăng rằm không?
Chú cuội chơi trăng ngồi gốc đa điểm hẹn
Hằng Nga gián trần rước đèn Tháng Tám
Dáng ngọc nét ngà mặn mà xinh xinh.
Anh có về hồi tưởng ký ức không?
Chuyến xe định mệnh cùng em về đất Quảng
Hơn ba chục năm qua, giờ tóc lấm tấm bạc
Sợi tơ hồng, cầu nối một mùa trăng!

(Viết tặng Cô giáo Phan Nguyệt-con gái Phù Sa)
Thật tự hào khi là người con của làng Mông Lãnh, thôn Phù Sa, một ngôi làng yên bình êm ả đến lạ thường. Ở đó có đủ các nghề thủ công bằng tay đã nuôi sống bản thân mỗi ngày cứ thế diễn ra theo lịch đà sẵn có. Lớn lên xa nhà và đi làm ăn xa nên hầu như các thanh niên trai tráng và các chị em gái đều đi lấy chồng nên phần lớn các gia đình cũng chỉ có ba mẹ già hoặc có thêm ông bà ở nhà, ngôi làng trở nên vắng vẻ hơn, con cháu đi xa, chỉ cuối tháng hoặc cuối năm, nhân dịp giỗ chạp hay Tết đến mới sum họp đủ đầy.
Tôi trở về thăm nhà, thăm bà con hàng xóm vài hôm rồi lại ra, muốn ước được ở lại ăn cơm má nấu, được nghe ba kể chuyện, mấy mươi ngày không về chắc sẽ dồn nén nhiều vậy mà cơ hội đâu có? Nhìn cảnh vật ở quê vẫn còn đó, mà người thì đã thêm tuổi, cây cao bóng cả xế chiều nghiêng mà nhà nào cũng vậy, thấy mà thương.
Quê tôi; làng Mông Lãnh, Phù Sa thôn, nơi đây nhiều kỷ niệm làm tôi không thể nào quên mỗi khi nghĩ về. Tôi đã nhắm mắt lại và viết vội đôi dòng gởi những người con xa xứ, xa quê hương để đi làm ăn nhưng trong lòng vẫn canh cánh, đau đáu nỗi nhớ nhà nhớ quê da diếc lắm, thương lắm Phù Sa ơi! Ngày đêm ao ước được trở về quê mẹ dù nghèo, dù vất vả, dù đắng cay, nhưng ăn cơm mẹ nấu thì ngon quá chừng. Một điều ước giản đơn như thế không biết bao giờ mới thực hiện được đây? Nhưng dù sao, ở đâu, làm gì đi nữa thì mỗi người con của mảnh đất này, ngôi làng này vẫn một lòng nhớ quê và không quên nghĩa vụ với gia đình, họ hàng, dòng tộc, bà con xóm giềng, bạn bè thân hữu gần xa.
Làng tôi đó! bình yên, giản dị lắm đấy!
Mộc mạc đơn sơ, nhưng sâu sắc, đong đầy
Bà con hàng xóm trở nên thân thuộc vậy
Đi mô về, cũng gật đầu, hỏi thăm ngay!
Làng tôi đó! Mông Lãnh, Phù Sa ấy!
Đã bao đời, làm nghề thủ công bằng tay
Tuy vất vả, khó nhọc, lao lực nắng mưa dày
Vẫn đủ đầy vượt qua từ xưa nay.
#FB Nhành cỏ non
Vũ Hoàng Phương Thảo
21/08/2021