Blog Quảng Nam

Bản tin

NỖNG ÔNG TÂY

Ngày: 

10/04/2020

Lượt xem: 

1654

 

        Thầy giáo Nguyễn Ngọc

 

 

NỖNG ÔNG TÂY

(Truyện ngắn)

 

Nhân dịp thanh minh, tôi đi ngang qua khoảnh đất bạt ngàn tràm xanh, tự dưng đôi chân như sựng lại, bởi ký ức ngày xưa hiện về… Nơi này gọi nỗng ông Tây, một nỗng cát rộng lớn nhưng chỉ có một gia đình người nông dân dựng nhà sinh sống, cuối đời, ông chuyển nhà đi nới khác. Không biết tự bao giờ người dân địa phương quen gọi là nỗng ông Tây. Tên đầy đủ của ông là Phạm Tây. Một địa danh chứng kiến bao nỗi thăng trầm của thời cuộc, nhất là thời chiến tranh, đến giờ vẫn có số người còn nhớ lại mấy câu vè dân gian truyền miệng hồi ấy: “Kể từ Mỹ đóng gò Rang/ Qua hòn núi lớn khai quang xây đồn./ Để mà chiếm lấy nông thôn/ Mở vòng đai sát bên cồn nỗng Tây./ Hầm rác Mỹ đổ tại đây…”

 

 

Nỗng Tây nằm dưới chân dãy núi Sơn, gồm một quần thể núi, đồi, gò, nỗng, có một ngọn núi cao đứng lẻ loi gọi là Hòn Một. Vào năm 1966 – 1967, bộ chỉ huy lữ đoàn dù và lữ đoàn 196 của Mỹ đổ xuống Hòn Một, rồi đóng quân ở đấy. Nhiều đồi, nỗng bị cày xới, sang bằng, xây căn cứ quân sự, nào là lô cốt, hầm trú ẩn ngổn ngang, ghép những tấm ri nhôm làm sân bay dã chiến, bờ rào kẽm gai chồng lên lớp lớp bao quanh. Đêm về, điện pha sáng trưng. Từ căn cứ này, tiếng đại bác liên tục rền vang xé màng đêm bay về tàn sát các vùng lân cận, nhiều đêm hỏa châu sáng rực. Ngày cũng như đêm, trực thăng quần lượn lên xuống liên tục. Không khí chiến tranh tràn ngập đe dọa đến từng bụi cây, ngọn cỏ ở cái vùng quê vốn dĩ yên bình này khi tôi mới lớn lên.

 

 

Mỹ cày múc nỗng ông Tây thành một hố sâu để đỗ rác. Nói là rác, chứ thật ra lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, vật dụng, thượng vàng hạ cám, có thứ quá hạn, cũng có thứ chưa quá hạn, chúng đều chở tất tần tật ra đổ tại đây. Thời thế xáo trộn, kinh tế thời chiến, nhiều gia đình vô cùng khó khăn. Thanh niên, chủ yếu là nữ, nhiều người đăng ký xin vào đồn làm thuê cho lính Mỹ, với cụm từ khá hay: “đi làm sở Mỹ”. Việc làm của họ là tạp dịch, dọn dẹp, vệ sinh phòng ốc, giặt giũ… Sáng sớm, những người làm thuê xếp hàng phía trước cổng chính để vào đồn. Buổi chiều sắp tắt, nhóm người khác, đa số là người cao tuổi và trẻ nhỏ, kéo nhau lên phía hầm rác bên ngoài đồn để nhặt đồ phế thải.

 

 

Nó là đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở cái làng nầy, chẳng biết cha nó là ai, hồi tiểu học, có lần nó hỏi mẹ, bà chỉ nói: “Lớn lên rồi con sẽ biết”. Sợ mẹ buồn, nó không dám hỏi nữa. Từ ngày có cái hầm rác ấy, thời điểm nó đang học lớp đệ lục (lớp 7 bây giờ) trường huyện, cách nhà khoảng năm cây số, sáng đi học, chiều ở nhà, lặng lẽ đi lượm rác Mỹ. Nó lại là người làm ra tiền giúp mẹ trang trải việc gia đình. Lượm đồ ở hầm rác cũng hết sức vất vả và rất nguy hiểm. Hồi ấy dân gian có mấy câu nhắc nhở: “Năm giờ còi hú cho vô/ Lấn nhau kẻ đẩy người xô chạy nhào/ Khoang khoang bớ hỡi đồng bào/ Coi chừng cái bọn “hến xồ” “em pi” (*). Nó còn nhỏ nhưng đi lượm đồ rác thì gan dạ và giỏi thật. Không đợi đến năm giờ chiều, mà tầm bốn giờ, nó đào cát, bò dưới kẽm gai vào trước, nấp một nơi kín đáo, nhặt nhạnh những đồ còn giá trị, rồi nằm im chờ còi hú cho vào, thì nó nhặt đã nhặt đầy bao đủ sức để mang về, không cần giành giựt xô đẩy, nên bao giờ nó cũng trúng đồ nhiều hơn người khác.

 

 

Nó định dành tiền mua một chiếc xe đạp để đi học cho tiện, mẹ cũng khuyến khích nó điều ấy, chứ ngày nào cũng nhờ bạn chở đi, nó cảm thấy tủi thân. Trong nhóm chở nó đi học có tôi. Nó học sau tôi một lớp. Việc làm của nó âm thầm, anh em trong nhóm chỉ có một người biết, nhưng giữ kín cho nó, không nói ra. Khi tích góp gần đủ số tiền mua xe thì đùng một cái mẹ nó trở bịnh – bịnh gì không biết, chỉ nghe bà nói thường hay đau thắt ở chấn thủy, cứ lâu lâu lại tái phát. Mỗi lần như vậy, nó chạy ra trạm y tế gần đấy, xin thuốc về cho mẹ uống, cắt cơn đau, mẹ lại ra đồng làm việc. Nhưng lần nầy khác hơn, mẹ đau quằn quại, nó dẫn ra trạm xá, ông y tá phê một câu xanh rờn: “Bệnh nặng đấy, y tế hương thôn không chữa được”. Nó phải chuyển mẹ lên bệnh viện tuyến trên, khám xong, tiền thuốc, tiền di chuyển, ngốn đi của nó gần nửa giá chiếc xe đạp, mà nghe bác sĩ nói phải mổ nữa. Nó thầm nghĩ: Không sao! Mẹ là tất cả. Xe đạp không có cũng được, bây giờ cần thật nhiều tiền để chửa bệnh dứt điểm cho mẹ.

 

 

Chiều hôm đó nó lại lên hầm rác, quyết tâm nhặt đồ thật nhiều, nên nó đi sớm hơn mọi khi. Nó cũng rất cảnh giác luôn nhớ câu: “Kẻ đi gặp của gặp tiền/ Người đi găp phải Mỹ điên bắn nhào”. Biết thế, nó không dại gì leo qua bờ rào, bởi chưa mở cổng mà leo qua bờ rào thì tụi lính Mỹ tuần tra thấy được là chúng bắn ngay. Nó phải thực hiện động tác như lính đặc công, đào cát, từ từ chui dưới vồng rào kẽm gai, rồi bò qua những đống giấy hộp cát tông, những tấm ván ép, những thùng xốp, chưa đầy mươi phút nó đã đến được nơi cần đến, thu nhặt được toàn đồ còn có giá trị, đồng hồ, máy cassette, đồ hộp đắc tiền, thoắt một cái đã đầy hai bao, không lấy nhiều, chỉ lấy đủ sức để nằm chờ mở cổng mang ra. Lấy xong, sợ lộ, bởi chưa mở cổng mà thấy có người lởn vởn bên trong vồng thép gai là bọn MP nó bắn. Nằm dưới mảnh giấy cạt tông, nó thấy an tâm, lơ mơ nghĩ về những mặt hàng này tối nay sẽ đưa đến những nơi nào trong thị trấn để bán cho được giá. Khí trời nóng bức, nó thấy mệt rồi thiếp đi lúc nào không hay. Đang mơ màng bỗng dưng bên tai có tiếng động cơ xe càng lúc càng gần, nó tỉnh dậy vứt vội tấm cạt tông che thân, thất thần nhìn thấy chiếc GMC to đùng lùi sát đến bên cạnh, định thần vùng chạy, nhưng vướn phải những đồ hộp, thoát không kịp, hai bánh xe sau đã đẩy nó ngã xuống, rồi đè lên, nó chỉ kêu được hai tiếng: Mẹ ơi! Những người đi lượm rác còn đang đứng bên ngoài nhìn vào thấy vậy vẫy tay la lên. Chiếc xe dừng lại, tay lái xe người Mỹ da đen mở cửa nhảy xuống, những người lượm rác bên ngoài chạy ùa vào, nhưng hết rồi, nó đã trút hơi thở cuối cùng. Nhiều người lượm rác hôm ấy biết nó, đưa nó và hai bao đồ nó lượm được về nhà cho mẹ nó. Đến lúc qua đời, nó vẫn chưa biết cha nó là ai. Nhà không có đất riêng, mẹ nó nhờ người đưa táng dưới chân nỗng ông Tây. Sau khi nó mất, một đứa bạn trong nhóm kể lại, bọn tôi mới hay.

 

 

Hình ảnh của nó lâu rồi chẳng mấy ai nhắc đến, tôi cũng quên đi. Hôm nay tình cờ đi ngang qua khu đất này – cái nỗng ông Tây, bây giờ là rừng tràm xanh ngát, lại trong ngày thanh minh, tự nhiên gợi tôi nhớ ngày xưa mộ nó táng ở nơi này. Thế mà đã hơn năm mươi năm rồi. Thời ấy, tuổi thơ ở quê tôi, có những mảnh đời thương tâm như vậy, tất cả đều thoáng qua, rồi khuất chìm theo bóng thời gian. Tôi ngước nhìn trời, mây vẫn lặng lẽ bay đi, chỉ còn lại nơi đây một mùi hương rừng thoảng thoảng.

 


Tác giả:             Nguyễn Ngọc

GV giảng dạy Bộ môn Toán (đã nghỉ hưu)

Trường THCS Quế Phú, Quế Sơn, Quảng Nam

*Cám ơn Thầy đã gởi bài về Blogquangnam

Bài Viết Liên Quan

Danh Mục

Loading...

Xem thêm

Tags