Hội nghị tuyên truyền, phổ biến các văn bản Luật: Luật Tiếp Công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và Luật PCTN trên địa bàn huyện Bắc Trà My năm 2019

19/06/2019 16:06 108
Thực hiện Kế hoạch số 02/KH-TT ngày 22/4/2019 của Thanh tra huyện Bắc Trà My về việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2019. Từ ngày 14/5/2019 đến ngày 30/5/2019 Thanh tra huyện Bắc Trà My phối hợp với UBND các xã: Trà Nú, Trà Ka, Trà Giác, Trà Tân và các thôn trên địa bàn các xã đã tổ chức Hội nghị tuyên truyền phổ biến các văn bản Luật: Luật Tiếp Công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và Luật PCTN với sự tham gia của gần 500 cán bộ đến từ Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN xã, các ban, ngành hội đoàn thể xã, cán bộ các thôn. Trạm y tế, BGH các trường đóng trên địa bàn các xã, …

 

 

Tại Hội nghị Báo cáo viên của Thanh tra huyện đã triển khai cụ thể các Luật Tiếp Công dân số 42/2013/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/7/2014, Luật Khiếu nại số: 02/2011/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/7/2012. Đặc biệt Luật Tố cáo số: 25/2018/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/01/2019, Luật PCTN  số: 36/2018/QH14 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2019 đồng thời giới thiệu một số Nghị định, Thông tư và các văn bản luật có liên quan đến các nội dung trên.

 

Báo cáo viên của Thanh tra huyện triển khai nhiều nội dung mới Luật Tố cáo năm 2018, nhất là các nội dung về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo; việc giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; về hình thức tố cáo, tiếp nhận, xử lý ban đầu thông tin tố cáo, về trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo; giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực,... Luật Tố cáo mới 2018 có nội dung và phạm vi điều chỉnh hợp lý, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền tố cáo; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc giải quyết tố cáo; quy định rõ thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết các loại tố cáo; có cơ chế hữu hiệu bảo vệ người tố cáo; đồng thời xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm pháp luật về tố cáo,…

 

 

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 20/11/2018. Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2019 với 10 Chương và 96 Điều.

 

Tại hội nghị, Báo cáo viên đã cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về Luật Phòng, chống tham nhũng, đặc biệt về nguyên tắc công khai, minh bạch, phát hiện xử lý tài sản tham nhũng. Về nội dung công khai, minh bạch, việc thực hiện chính sách pháp luật có nội dung liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức, viên chức, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và công dân... Hình thức công khai bao gồm: niêm yết, công bố tại cuộc họp, thông báo bằng văn bản, thông báo, đăng tải trên cổng thông tin điện tử, tổ chức họp báo...Việc công khai, minh bạch về tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc trách nhiệm người đứng đầu cơ quan tổ chức, đơn vị, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước...

 

Tại mục 3 quy định về thực hiện quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, Luật quy định quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị không được nhũng nhiễu trong giải quyết công việc...Tại mục 4 quy định về chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức, Luật quy định nguyên tắc chuyển đổi vị trí công tác và thời hạn phải định kỳ chuyển đổi, kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác...

 

Về cải cách hành chính, ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý và thanh toán không dùng tiền mặt, Luật có quy định chi tiết các nội dung về cải cách hành chính, ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tại Điều 27 và Điều 28 và thanh toán không dùng tiền mặt tại Điều 29.

 

Về phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, Luật đã quy định về công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước; công tác tự kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị; quy định kiểm tra hoạt động chống tham nhũng trong cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, cơ quan điều tra, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân; quy định thẩm quyền của cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước trong thanh tra, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng; xử lý vụ việc có dấu hiệu tham nhũng được phát hiện qua hoạt động thanh tra, kiểm toán; xử lý vi phạm trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.

 

Về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, Luật đã quy định thành một chương riêng (Chương IV), theo đó quy định nội dung trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng (Điều 70); quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc áp dụng biện pháp tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác (Điều 71); quy định trách nhiệm và xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách (Điều 72 và Điều 73).

 

Về phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước (Chương VI), Luật đã nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước trong phòng, chống tham nhũng, đồng thời quy định trách nhiệm của tất cả doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nói chung trong việc xây dựng quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc đạo đức kinh doanh, quy tắc ứng xử, cơ chế kiểm soát nội bộ nhằm phòng ngừa tham nhũng. Điều 80, Luật quy định các doanh nghiệp, tổ chức này phải áp dụng các quy định về công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động, kiểm soát xung đột lợi ích, chế độ trách nhiệm của người đứng đầu.

 

Về xử lý tham nhũng và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Luật đã quy định rõ các nguyên tắc về việc xử lý tham nhũng (từ Điều 92 đến Điều 93). Điều 94 liệt kê các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng và quy định mang tính nguyên tắc xử lý đối với các hành vi này. Điều 95 quy định xử lý hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước.

 

Thêm một số loại tài sản, thu nhập phải kê khai

 

Ngoài phải kê khai các loại tài sản, thu nhập như quy định trước đây, như: Nhà, đất; Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá mà mỗi tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên; Tài sản, tài khoản ở nước ngoài. Luật mới yêu cầu các đối tượng nêu trên còn phải kê khai thêm công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng. Đồng thời, các đối tượng còn phải kê khai cả tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai.

 

Biến động tài sản từ 300 triệu đồng/năm phải kê khai bổ sung

 

Theo khoản 2 Điều 36, người có nghĩa vụ kê khai phải thực hiện kê khai bổ sung khi có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 300 triệu đồng trở lên.

 

Trường hợp có biến động tài sản như trên mà không giải trình hợp lý về nguồn gốc tài sản, cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có trách nhiệm xác minh.

 

Người có nghĩa vụ kê khai phải giải trình về tính trung thực, đầy đủ, rõ ràng của bản kê khai, nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm. Đồng thời, có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xác minh tài sản, thu nhập khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật.

 

Kê khai không trung thực có thể bị buộc thôi việc

 

Theo khoản 3 Điều 51, cán bộ, công chức kê khai không trung thực về tài sản, thu nhập có thể bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức: Cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm.

 

Trường hợp đã được quy hoạch vào các chức danh lãnh đạo, quản lý thì còn bị đưa ra khỏi danh sách quy hoạch; trường hợp xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm thì có thể xem xét không kỷ luật.

 

Trường hợp người được dự kiến bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử giữ chức vụ mà kê khai không trung thực thì không được bổ nhiệm, phê chuẩn hoặc cử vào chức vụ dự kiến.

 

Trường hợp người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND mà kê khai không trung thực thì bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử.

 

Việc tuyên truyền Luật Phòng, chống tham nhũng đã nâng cao nhận thức cũng như ý thức chấp hành của các cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ, đảm bảo phục vụ nhu cầu chính đáng của các tổ chức, cá nhân và các tầng lớp nhân dân, góp phần làm trong sạch bộ máy của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương./.

BÀI VIẾT NỔI BẬT