Nghề đan nón thủ công của dân tộc Ca dong

23/08/2019 09:20 70

Do bởi sự thay đổi của tự nhiên và lối sống, chiếc nón đội đầu không còn là hình ảnh quen thuộc gắn bó với tộc người Ca Dong trên vùng Trường Sơn –Tây Nguyên ngày nào. Ấy thế, hiện nay tại thôn 6, xã Trà Bui, cách trung tâm huyện lỵ Bắc Trà My khoảng 40 km về hướng Tây Bắc, vẫn còn tồn tại nghề đan nón thủ công truyền thống của người Ca Dong.

 


Ông Hồ Thanh Vân (72 tuổi), dân tộc Ca Dong ở thôn 6, xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My (Quảng Nam), với công đoạn lột vỏ của cây sa ri để phục vụ cho nghề đan nón.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, đồng bào nơi đây chủ yếu là tộc người Ca Dong. Họ sinh sống bằng hoạt động kinh tế nương rẫy, nghề đan nón thủ công truyền thống của người Ca Dong đã có từ rất lâu. Ngày xưa, việc đi làm rẫy, mỗi dịp đi thăm bà con, anh em họ hàng ở những làng khác hay trong các hoạt động văn hóa, thì người Ca Dong cả đàn ông, phụ nữ, thanh niên, thiếu nữ và những em bé đều đội chiếc nón lá dứa (xicul lari sát), nón cây giang (xicul xita), do người Ca Dong làm ra để phòng khi trời mưa nắng.

 

Ông Hồ Thanh Vân (72 tuổi), dân tộc Ca Dong ở thôn 6, xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) cho biết: Để hoàn thành một chiếc nón, đầu tiên là đàn ông Ca Dong vào rừng tìm lá dứa rừng (lari sát), thân cây giang (xi ta) và cả cây sa ri để làm nguyên liệu để phục vụ cho nghề đan nón. Lá dứa được chọn là những lá dứa già, to, không bị rách. Thân cây giang cũng phải già, thẳng, không bị kiến đục lỗ, không bị cụt ngọn. Lá dứa chặt đem về, đem phơi khô cho tới khi ngả sang màu nâu. Cây giang chặt về, chẻ ra thành nhiều miếng để trên giàn bếp cho thật khô. Cây sa ri sau khi chặt đem về thì dùng rựa đập lấy vỏ để làm sợi. Khi giang đã khô, người thợ dùng rựa chẻ lấy toàn cật của giang. Mỗi cọng nan phải chẻ thật cho đều nhau. Kỹ năng và kỷ thuật của người thợ là ở khâu chẻ và vót nan quyết định chiếc nón đẹp hay xấu mà còn ở độ bền của chiếc nón đó nữa. Nếu chẻ nan mỏng quá, thì khi níu múi ở vành ngoài cùng của chiếc nón sẽ tạo cho nón cong vẹo. Càng nếu khi chẻ nan hơi dày và vót nan không đều, chổ dày chổ mõng, khi níu múi của vành sẽ tạo cho nón cứng.

 

 
Ông Vân với công đoạn gầy nan    

 

Nón để người Ca Dong đội thì có hai loại: Loại nón đan theo kiểu nan long mốt (tét mơi), nan long hai (tét pái). Đây là nón được đan hoàn toàn bằng sợi nan của cây giang. Loại nón đan theo kiểu hình lục giác (pót trô), lợp lá dứa rừng. Chiếc nón được đan theo nhu cầu, mục đích sử dụng. Muốn đan loại nón nào, người đan sẽ chẻ nan, chọn lá cho phù hợp với kiểu dáng của nón đó. Ngày trước, tùy thuộc vào từng lứa tuổi và sở thích mà hai loại nón có kích thước cũng khác nhau. Trẻ em Ca Dong (cả nam, nữ) thường thích nón có kích thước (33x50) cm, lợp lá dứa rừng. Còn người lớn, thường đội nón có kích thước (57x65) cm, đan toàn cật của cây giang.  

 

Cũng theo ông Vân, với người Ca Dong nón đan theo kiểu hình lục giác thì đơn giản, còn đan nón theo tét mơi (nan long mốt) và tét pái (nan long hai) thì rất tốn công. Bởi nón được đan hoàn toàn là sợi giang. Vì vậy, dù đan theo kiểu gì thì công đoạn gầy nan cho hai loại nón này rất quan trọng, không tránh khỏi sự thiếu sót nhỏ nào. Khi gầy nan, phải chọn chính tâm, nghĩa là những chiếc nan đầu tiên khi gầy phải chính giữa, thì khi đan nó không bị lỗi mà còn tạo nên một liên kết nan liền nhau. Khi đan bề mặt của nón bao giờ cũng khít, cần tránh để lộ những giao điểm hỡ mà khi gặp phải trời mưa thì nước sẽ thấm ướt. Công đoạn lại múi nan ở phần ngoài cùng của vành của hai loại nón này sao cho khít mà còn tạo thẩm mỹ nữa. Chỉ cần nhìn vào múi nan của vành, người Ca Dong có thể biết được tay nghề của người đan nón đó.

 

Ông Hồ Thanh Vân với chiếc nón được đan thủ công hoàn toàn bằng nan cây giang

 

Công đoạn cuối cùng là tạo vòng chóp và làm dây quai nón. Vòng chóp được đan bằng sợi của cây sa ri theo kiểu thoắt con tít. Chiều cao khoảng 3 cm, chiều dài khoảng 50 cm, được kết nối thành một vòng tròn tại tâm của nón có đường kính khoảng 15 cm và được níu bởi hai cọng cây giang dáng hình chữ thập. Để khi đội và thắt quai, thì nón không bị xê dịch. Dây nón cũng được làm từ sợi của cây sari, dẽo và rất bền. Nón đan theo kiểu pót trô, có thể sử dụng từ 5 - 7 năm. Khi hư, thì được lợp lại lá dứa rừng khác. Còn nón đan theo kiểu nan tét mơi, tét pái thì bền hơn, có thể dùng từ 13 - 15 năm mới hư.

 

Đối với đồng bào dân tộc Ca Dong huyện vùng cao Bắc Trà My(Quảng Nam), hình ảnh chiếc nón được họ đội nó vào mỗi khi lên rẫy, vào rừng săn bắn, hái nấm, bẻ măng, xuống suối bắt tôm, cá…hay dịp làng vào mùa lễ hội, đến mỗi khi đi thăm anh em, họ hàng, sui gia ở những làng khác, thì chiếc nón là vật dụng để đội, vừa là vật trang điểm không thể thiếu trong văn hóa cũng như đời sống hàng ngày của đồng bào dân tộc Ca Dong nơi đây. Chính vì vậy, vẫn còn nhiều đàn ông Ca Dong gắn bó với nghề đan nón thủ công. Nghề đan nón thủ công của người Ca Dong làm ra chủ yếu để trao đổi lấy lúa, gạo, con heo, con gà, đến dụng cụ cái cuốc làm rẫy, cái rựa, con dao đi rừng…

 

Chiếc nón, luôn gắn bó với người Ca Dong trong cuộc sống hằng ngày trên xã vùng cao Trà Bui, huyện Bắc Trà My (Quảng Nam)

 

Ông Vân cũng trăn trở, trong tâm khảm đã là người Ca Dong họ xem chiếc nón như một phần máu thịt và nó như là vật báu vô gia và luôn có ý thức giữ gìn. Bây giờ ở xã Trà Bui, huyện vùng cao Bắc Trà My này, nơi sinh sống lâu đời của đồng bào dân tộc Ca Dong, một khi đời sống phát triển, cũng như có sự giao thoa văn hóa giữa các vùng miền ngày một diễn ra với nhau. Một số loại mũ, nón bán ngoài chợ rất thông dụng cũng được người Ca Dong mua về dùng. Tôi thấy lo lắng cho số phận của những chiếc nón và nghề đan nón thủ công của người Ca Dong, đang dần bị mai một. Một khi những đàn ông Ca Dong không còn nhiều và số còn lại thì tuổi đã cao. Trong khi một bộ phận lớp trẻ Ca Dong, không còn thiết tha với nghề đan nón thủ công truyền thống của dân tộc mình.  

 

 

Được biết, trước thực trạng nghề làm nón thủ công của người Ca Dong trong xã có nguy cơ bị mai một. Nhiều năm qua, xã Trà Bui đã xây dựng các phương án bảo tồn văn hóa, trong đó có nghề đan nón thủ công của người Ca Dong. Thiết nghỉ, các cơ quan chức năng tỉnh Quảng Nam, huyện Bắc Trà My cần giúp địa phương mở các lớp phục dựng các điệu múa, hát cồng chiêng, truyền dạy nghề lát và đan nón. Đồng thời, có các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ nghề đan nón để nó tồn tại và phát triển. Qua đó lưu giữ và phát huy được văn hóa truyền thống của cộng đồng Ca Dong.

 

Hy vọng, một ngày nào đó nghề đan nón của đồng bào dân tộc Ca Dong xã Trà Bui sẽ sống lại, không còn phải chịu cảnh đìu hiu như bây giờ. Đó cũng là một cách để nó không bị mai một, để nét đẹp văn hóa của đồng bào dân tộc Ca Dong nơi đây được giữ gìn mãi mãi./.

 

Tác giả: Nguyễn Văn Sơn (Bảo tàng Quảng Nam)

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

BÀI VIẾT NỔI BẬT